Ca dao Khánh Hòa

Bài viết này dựa trên nguồn tư liệu thơ ca dân gian Khánh Hoà, chúng tôi sưu tầm được, chắc chắn là chưa đầy đủ, nhưng cũng giúp hình dung được những nét chung thống nhất với ca dao của nhiều vùng đất khác, đồng thời cũng mang nhiều nét đặc thù của Khánh Hoà.

I.CA DAO KHÁNH HOÀ VỚI PHONG CẢNH VÀ SẢN VẬT:

1.Về phong cảnh

Ca dao Khánh Hoà nhắc tên  các miền quê : Vạn Giã, Tu Bông, Ninh Hoà, Cầu Thành, Cồn Cạn, Nha Trang, Cam Ranh, Diên Khánh… Những con sông, con suối như: sông Dinh, sông Cù, sông Cái, suối Tiên, suối Đổ, suối Ngổ… Những hòn đảo và núi như: hòn Hèo, hòn Đỏ, hòn Kẽm, hòn Chữ, hòn Dữ, hòn Dung, hòn Chồng…

Việc nhắc đến nhiều địa danh không những chứng tỏ sự phong phú của ca dao Khánh Hoà mà còn là căn cứ quan trọng để xác định ca dao Khánh Hoà, phân biệt với ca dao của các miền đất khác. Đồng thời qua đó ta cũng thấy được sự đa dạng của thiên nhiên và địa hình mang dấu ấn địa phương Khánh Hoà.

Suối Tiên nước chảy lững lờ

Tiên đi đâu, để bàn cờ rêu phong

Nước mây vắng vẻ tăm mòng

Bền gan nay vẫn rày mong mai chờ

Bài ca dao nhắc lại sự tích suối Tiên, với không gian yên tĩnh, nước suối trong mát, êm trôi. Tương truyền xưa kia tiên ở trên trời thường xuống đây tắm, đánh cờ, vui chơi. Ngày nay nơi đây trở thành một thắng cảnh. Khách du lịch trong và ngoài nước đến đây tận hưởng cái không khí trong lành, tắm mát, phơi mình trên các tảng đá ở giữa dòng suối và mơ màng về cái thuở Tiên còn về trần thế.

Bãi biển Nha Trang, một phong cảnh hữu tình, nên thơ:

Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo

Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

Đêm đêm thơ thẩn một mình

Đố sao cho khỏi vương tình nước mây.

Cát trắng, nước trong, trăng thanh, gió mát. Thiên nhiên quả là ưu đãi. Một thiên nhiêu dịu lành, thân thiện với con người. Nó thức dậy những nỗi niềm thầm kín trong sâu thẳm tình cảm con người, đó là nỗi vấn vương, cùng khát vọng giao hoà với thiên nhiên.

Thiên nhiên thuận hoà là đặc điểm của vùng đất.

Tỉnh Khánh Hoà đậm đà mưa nắng

Non chồng nghĩa nặng, nước chứa tình thâm.

Câu ca dao khái quát được đặc tính khí hậu Khánh Hoà “mưa nắng rất điều độ và mùa mưa không “lạnh cắt ruột” “lạnh nhức xương “ như ở Huế, ở Cao nguyên. Trong mưa có khí ấm, trong nắng có khí mát (2). Đúng là cái mưa, cái nắng cũng có mối tình sâu đậm với con người. Nó là thứ keo gắn kết con người với quê hương xứ sở, để ai đó vì một lý do gì phải đi xa vẫn hướng về quê hương thiết tha, chung thuỷ.

Ai về Xóm Bóng quê nhà

Hỏi thăm điệu múa Dâng Bà còn không?

Đó là lời nhắc nhở về khu di tích Tháp Bà Nha Trang, Xóm Bóng là xóm của những người hát bóng. Và điệu múa Dâng Bà đã trở thành nghi lễ trong lễ hội hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, để tưởng nhớ, ca ngợi Bà mẹ xứ sở Thiên Y A Na. Như thế tình yêu quê hương đã gắn liền với ý thức giữ gìn, trân trọng những truyền thống lịch sử, văn hoá.

Ca dao phong cảnh Khánh Hoà mang tính chất địa phương, đặc thù rõ nét:  Khác với ca dao Bắc Bộ, phong cảnh thiên nhiên là những cánh đồng bát ngát, thẳng cánh cò bay, những ngọn núi xa “mây mù che phủ”, khác với ca dao Nam bộ, phong cảnh thiên nhiên là những miệt vườn, sông nước, kinh rạch, trong ca dao Khánh Hoà, phong cảnh thiên nhiên nổi bật lên hình ảnh non- nước, núi-biển. Không ở đâu non và nước giao thoa một cách sống động và ân tình đến thế.

Phong cảnh thiên nhiên Khánh Hoà không chỉ đẹp một cách đơn thuần mà bao giờ cũng gắn liền với những sản vật quí, đặc trưng cho một miền quê nào đó.

2.Về sản vật

Trầm hương, yến sào là đặc sản quí hiếm mà thiên nhiên đã ưu đãi cho Khánh Hoà cả về số lượng và chất lượng. Không phải ngẫu nhiên mà Khánh Hoà cón có một tên gọi thứ hai là Xứ Trầm Hương. Sản vật trầm hương, yến sào đi vào ca dao đã làm nên tính  chất địa phương Khánh Hoà. Cho nên trầm hương, yến sào không dừng lại ở giá trị sản vật mà đã trở thành biểu tượng của quê hương non nước Khánh Hoà.

“Miếng ngon nhớ lâu”. Rồi từ nỗi nhớ vị ngon ngọt của món ăn, người ta nhớ đến tên đất, tên làng, tên sông, tên hồ… quê hương của vị ngon ngọt đó!

Yến sào hòn Nội

Vịt lội Ninh Hoà

ôm hùm Bình Ba

Nai khô Diên Khánh

Cá tràu Võ Cạnh

Sò huyết Thuỷ triều

Đời anh cay đắng đã nhiều

Về đây  ngọt sớm, ngon chiều với em.

Sản vật có loại do thiên nhiên ưu đãi, cũng có loại do con người vất vả làm ra, nhưng tất cả đều  được ca dao nhắc đến bằng một thái độ trân trọng tự hào.

Khoai lang hòn Chúa

Đậu phụng hòn Dung

Chồng đào vợ mót đổ chung một gùi.

Ca dao sản vật Khánh Hoà thường đi đôi với tình cảm con người mà nhất là tình yêu đôi lứa. Không ít những câu ca dao mượn sản vật để tỏ tình, hay giãi bày tâm sự buồn vui, yêu thương, hờn giận:

Cây quế Thiên Thai mọc bên khe đá

Trầm nơi Vạn Giã hương toả Sơn lâm

Đôi đứa mình đây như quế với trầm

Trời xui, đất khiến sắt cầm trăm năm

Trầm hương quí còn bởi nó được dùng làm thuốc chữa bệnh. Nó gắn bó với con người khi ốm đau, trái gió trở trời, thất thường mưa nắng, với tình chồng, nghĩa vợ hôm sớm, buồn vui, tan hợp. Trầm hương nhắc người ta đừng quên nhân ngãi ân tình.

Anh ngồi trong bếp lửa đau cái bụng

Em ngoài cửa nát nửa lá gan

Biết thuốc chi mà chữa bệnh cho chàng

ấy trầm hương cho uống sao chàng vội quên.

Có thể nói ca dao về phong cảnh và sản vật Khánh Hoà khá phong phú. Đó là sự phong phú của một miền đất nhiều cảnh đẹp, nhiều sản vật quí, nhiều thức ăn ngon. Trong bối cảnh đó, con người là nhân vật trung tâm, với tình yêu thiên nhiên đất nước vô bờ, tình yêu con người đằm thắm sâu nặng và một thái độ trân trọng lịch sử

II. CA DAO KHÁNH HOÀ VỚI CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI.

Nếu như ca dao Bắc bộ và Nam bộ chứa đựng những bức tranh xã hội rộng lớn và đậm nét thì ca dao Khánh Hoà ít đề cập đến mâu thuẫn xã hội, đấu tranh giai cấp, vấn đề giàu nghèo, thân phận con người.

Vì sao vậy? Có phải Khánh Hoà từ ngàn xưa đã là một miền đất yên ổn? Thực ra, dưới chế độ phong kiến, những vùng đất dù khác nhau cũng đều chung một gầm trời. Bất công, đau khổ, đói nghèo là căn bệnh vô phương cứu chữa của xã hội cũ. Vậy mà trong ca dao Khánh Hoà ít khi có tiếng thở dài, than thân, trách phận, những lời phản kháng, hay thái độ vùng lên.

Những bi kịch phụ nữ như cảnh mẹ chồng nàng dâu, chồng ngược đãi, cảnh lẽ mọn, lao động nặng nhọc, nghèo túng… trong ca dao Khánh Hoà cũng không đậm đặc như ca dao của một số vùng đất khác.

Cái nghèo được nói đến trong ca dao Khánh Hoà nhưng chủ yếu là lời tâm sự, sẻ chia, không nhuốm màu bi quan, trái lại chứa đựng niềm hy vọng ở sự đổi đời.

Đừng than cái áo rách tay

Trời kia ngó lại vá may mấy hồi

Hôn nhân là một đề tài lớn trong ca dao của mọi miền đất nước. Từ các khía cạnh của đời sống hôn nhân và gia đình, ca dao phản ánh những  vấn đề xã hội.

Ca dao Khánh Hoà đôi khi cũng có những lời than thở về tình duyên trắc trở, đổi thay, tan vỡ. Tình trạng gả bán, ép duyên, sản phẩm của những luật lệ phong kiến hà khắc: trọng nam khinh nữ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy… đã đẩy nam thanh niên đến chỗ bế tắc. Họ yêu nhau nhưng không có quyền quyết định hạnh phúc của mình.

Lửa nhen mới bén duyên cầm

Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên con

Tình yêu có thể vượt qua thử thách của không gian, đèo cao, dốc đứng, nhưng khó lòng vượt qua trở lực phong kiến mà hiện thân của nó không ai xa lạ chính là mẹ, cha của chàng trai, cô gái.

Trèo lên Đèo cả

Ngó xuống Vạn Giã – Tu Bông

Biết rằng phụ mẫu có đành không

Để em chờ, anh đợi uổng công hai đàng

Nhìn chung ca dao Khánh Hoà ít nói đến cái nghèo, ít nói đến mâu thuẫn  giai cấp và các quan hệ xã hội phức tạp khác. Đây cũng là một đặc điểm rất đáng lưu ý.

Có lẽ nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên nên từ bao đời người Khánh Hoà kiếm miếng ăn không đến nỗi quá nhọc nhằn như ở những vùng đất khác. Vì vậy mà trong ca dao Khánh Hoà ta cũng ít gặp những cảnh một nắng hai sương, lên thác xuống gềnh.

Mặt khác thiên nhiên Khánh Hoà không chỉ mưa nắng thuận hoà, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, mà còn rất hữu tình, chính thiên nhiên dã góp phần làm nên tâm hồn tính cách của người Khánh Hoà: gắn bó, giao hoà với cảnh vật, non nước và chan chứa tình yêu con người.

SƯU TẦM

BÀI LIÊN QUAN:

ĐÔI NÉT VỀ THƠ CA KHÁNH HÒA

 

Loading...